Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đang cho lao động nữ mang thai được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản để đi khám thai tối đa 5 lần, mỗi lần không quá 2 ngày làm việc. Quy định này có hiệu lực từ ngày 1/7/2025.
Nhưng tại cuộc đối thoại với đại biểu dự Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV ngày 5/6/2026, người lao động tiếp tục kiến nghị tăng số lần nghỉ khám thai từ 5 lên 9 lần trong một thai kỳ. Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan cho biết Bộ Y tế sẽ phối hợp với Bộ Nội vụ để hoàn thiện, sửa đổi các quy định liên quan đến chế độ thai sản trong Luật Bảo hiểm xã hội.
Điều đáng bàn không chỉ là nên chọn con số 5 hay 9. Câu hỏi chính sách lớn hơn là quyền nghỉ việc có hưởng chế độ có theo kịp lịch chăm sóc trước sinh mà thai phụ thực tế có thể cần hay không, nhất là với những người làm công việc ít linh hoạt về thời gian.
Năm lần nghỉ là quyền bảo hiểm, không phải lịch khám thai
Điều 51 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 quy định lao động nữ mang thai được nghỉ tối đa 5 lần để khám thai, mỗi lần không quá 2 ngày. Như vậy, nếu chỉ nhìn tổng số ngày, một thai kỳ có thể có tối đa 10 ngày làm việc được hưởng chế độ cho mục đích này. Tuy nhiên, luật đồng thời giới hạn số lần ở mức 5.
Hai cách tính này không nên nhập làm một. Mười ngày tối đa không có nghĩa người lao động có thể chia thành 10 lần khám khác nhau. Trọng tâm của kiến nghị năm 2026 vì thế nằm ở số lần được nghỉ, không chỉ ở tổng số ngày.

Các quyền lợi thai sản theo Luật Bảo hiểm xã hội mới đã được mở rộng ở nhiều mặt, nhưng câu chuyện số lần nghỉ khám thai cho thấy vẫn còn những chi tiết cần tiếp tục quan sát trong quá trình thực thi.
Cũng cần phân biệt quy định bảo hiểm với khuyến nghị y tế. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến nghị tối thiểu 8 lần “tiếp xúc” chăm sóc trước sinh giữa thai phụ và nhân viên y tế. WHO chủ ý dùng khái niệm “contact” thay vì “visit”, nhấn mạnh đây là quá trình cung cấp chăm sóc và hỗ trợ, không đơn thuần là một lần đến cơ sở y tế.
Vì vậy, không thể suy diễn rằng WHO yêu cầu pháp luật lao động phải cho nghỉ đúng 8 lần, cũng không thể lấy con số 8 để chứng minh ngay rằng mức 5 lần của Việt Nam là thiếu về mặt y khoa. Hai hệ thống đang đo hai việc khác nhau: một bên là mô hình chăm sóc sức khỏe, một bên là quyền nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
Tuy vậy, sự chênh lệch giữa số lần nghỉ được bảo đảm và số lần tiếp xúc chăm sóc trước sinh mà hệ thống y tế khuyến nghị là tín hiệu đủ để chính sách cần được xem xét kỹ hơn.
Kiến nghị 9 lần đã có từ trước khi luật được thông qua
Đề xuất nâng từ 5 lên 9 lần không phải mới xuất hiện trong năm 2026. Tháng 3/2024, khi dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội đang được góp ý, đại diện Công đoàn Dệt may Việt Nam đã kiến nghị tăng số lần khám thai tương ứng số tháng từ khi mang thai đến khi sinh con, từ 5 lên 9 lần.
Sau quá trình xây dựng luật, Quốc hội thông qua Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 ngày 29/6/2024. Luật có hiệu lực từ 1/7/2025 và vẫn giữ trần 5 lần, dù mỗi lần được nghỉ tối đa 2 ngày.
Việc cùng một kiến nghị quay lại tại cuộc đối thoại năm 2026 cho thấy đây không phải đề xuất thoáng qua. Nó phản ánh một khoảng cách mà ít nhất một bộ phận người lao động và tổ chức công đoàn cho rằng vẫn chưa được xử lý sau lần sửa luật gần nhất.
Ở góc nhìn giới, đây là trường hợp cần phân biệt bình đẳng hình thức với bình đẳng thực chất. Mang thai là nhu cầu sức khỏe gắn với cơ thể nữ giới. Nếu chính sách lao động chỉ áp dụng một khuôn thời gian cứng mà không tính đến nhu cầu sinh học đặc thù, người mang thai có thể phải tự hấp thụ phần chi phí thời gian phát sinh ngoài quyền được bảo đảm.

Điều đó không có nghĩa mọi lao động nữ đều cần 9 lần nghỉ, cũng không có nghĩa nâng số lần là giải pháp duy nhất. Người có công việc linh hoạt, cơ sở khám thuận tiện hoặc lịch chăm sóc ít lần hơn có thể không sử dụng hết quyền. Ngược lại, một giới hạn giống nhau có thể tạo tác động khác nhau đối với lao động làm theo ca, làm việc tại dây chuyền hoặc khó chủ động thời gian.
Chính sách vì thế cần nhìn vào mức độ sử dụng thực tế, thay vì chỉ tranh luận quanh một con số chung.
Tăng lên 9 lần chưa chắc là phương án duy nhất
Nếu cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu sửa quy định, câu hỏi đầu tiên là số lần nghỉ nên tiếp tục là một trần cố định hay được thiết kế linh hoạt hơn theo nhu cầu chăm sóc và chỉ định chuyên môn. Một mức trần cao hơn có ưu điểm dễ hiểu, dễ áp dụng; nhưng những thai kỳ khác nhau không nhất thiết có cùng nhu cầu.
Điểm thứ hai cần có là dữ liệu sử dụng chế độ hiện nay: bao nhiêu lao động nữ dùng đủ 5 lần, số người cần khám thêm trong giờ làm việc là bao nhiêu, mức độ khác biệt giữa ngành nghề, loại hình doanh nghiệp và điều kiện làm việc ra sao. Không có những dữ liệu này, việc chọn 7, 8 hay 9 lần vẫn dễ dựa nhiều vào giả định.
Điểm thứ ba là quyền trên giấy phải đi cùng khả năng sử dụng quyền tại nơi làm việc. Một chế độ được mở rộng sẽ ít ý nghĩa nếu người lao động ngại xin nghỉ vì lo ảnh hưởng đánh giá hoặc cơ hội công việc. Những quy định mới về xử phạt vi phạm quyền của lao động nữ đã tăng trách nhiệm của người sử dụng lao động; bước tiếp theo là làm cho các quyền liên quan thai sản có thể được thực hiện bình thường trong quy trình nhân sự.
Đây cũng là điểm chính sách bình đẳng giới cần giữ cân bằng. Bảo vệ nhu cầu sức khỏe đặc thù của người mang thai là cần thiết, nhưng cách thiết kế không nên vô tình củng cố định kiến rằng tuyển dụng phụ nữ đồng nghĩa với chi phí cao hơn. Cơ chế BHXH rõ ràng, thủ tục thuận tiện và trách nhiệm của người sử dụng lao động minh bạch giúp chi phí liên quan thai sản được chia sẻ qua hệ thống an sinh, thay vì bị biến thành lý do gây bất lợi trong việc làm.

Cuộc tranh luận 5 hay 9 lần vì thế nên được xem là cơ hội rà lại toàn bộ logic của quyền nghỉ khám thai. Mục tiêu cuối cùng không phải tạo thêm một “ưu tiên” cho phụ nữ, mà bảo đảm người lao động mang thai có điều kiện thực hiện chăm sóc cần thiết mà không phải đánh đổi quyền lợi nghề nghiệp.
Nếu Bộ Y tế và Bộ Nội vụ tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, dữ liệu sử dụng thực tế, nhu cầu y tế và sự khác biệt giữa các nhóm việc làm cần được đặt cạnh nhau trước khi chốt một con số mới. Đó sẽ là cách đưa chính sách bảo vệ thai sản gần hơn với bình đẳng thực chất, thay vì chỉ tăng thêm số ngày hoặc số lần trên văn bản.
Bốn con số cần phân biệt
- 5 lần: số lần tối đa lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản để khám thai theo Điều 51 Luật BHXH 2024.
- 2 ngày/lần: thời gian tối đa được nghỉ cho mỗi lần khám thai.
- 8 lần tiếp xúc: mức tối thiểu WHO khuyến nghị trong mô hình chăm sóc trước sinh; không đồng nghĩa 8 lần nghỉ việc hưởng BHXH.
- 9 lần: mức được người lao động kiến nghị năm 2026 và từng được Công đoàn Dệt may Việt Nam đề xuất trong quá trình góp ý Luật BHXH năm 2024.