Bộ Y tế thúc đẩy sàng lọc ung thư vú, hướng tới giảm 2,5% tỷ lệ tử vong mỗi năm

Ung thư vú tiếp tục là bệnh ung thư có số ca mắc và tử vong cao nhất ở phụ nữ Việt Nam. Tại hội thảo khu vực phía Nam diễn ra ngày 6/8, Bộ Y tế cùng các chuyên gia cảnh báo xu hướng gia tăng của căn bệnh này, đồng thời nhấn mạnh vai trò của sàng lọc, phát hiện sớm và triển khai Kế hoạch hành động quốc gia giai đoạn 2026-2035.

Ung thư vú tiếp tục là gánh nặng đối với sức khỏe phụ nữ

Ngày 6/8, Cục Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế) tổ chức hội thảo khu vực phía Nam nhằm phổ biến Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung, đồng thời cập nhật các hướng dẫn chuyên môn và chia sẻ kinh nghiệm triển khai tại các địa phương.

Tại hội thảo, các chuyên gia nhận định ung thư vú hiện vẫn là loại ung thư phổ biến nhất và gây tử vong nhiều nhất ở phụ nữ trên toàn cầu. Riêng năm 2024, thế giới ghi nhận hơn 2,4 triệu ca mắc mới, chiếm 24,3% tổng số ca ung thư ở nữ giới.

Tình hình tại Việt Nam cũng đặt ra nhiều lo ngại. Theo số liệu được công bố tại hội thảo, năm 2024 cả nước có khoảng 25.700 phụ nữ được chẩn đoán mắc ung thư vú và hơn 10.600 trường hợp tử vong. Trong 15 năm qua, số ca mắc và tử vong do căn bệnh này liên tục gia tăng và được dự báo sẽ còn tăng trong nhiều thập kỷ tới nếu không có các biện pháp can thiệp hiệu quả.

TS.BS Trần Đặng Ngọc Linh, Trưởng khoa Xạ trị phụ khoa, Bệnh viện Ung Bướu TP. Hồ Chí Minh, Trưởng Bộ môn Ung bướu, Trường Đại học Y Dược TP.HCM, cho biết số ca ung thư vú gia tăng xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Bên cạnh sự gia tăng dân số là những thay đổi về yếu tố nội tiết như có kinh sớm, sinh con đầu lòng muộn, sinh ít con, mãn kinh muộn, ít cho con bú hoặc sử dụng nội tiết sau mãn kinh. Ngoài ra, tình trạng thừa cân, béo phì, ít vận động, quá trình đô thị hóa, thay đổi lối sống và việc phát hiện, ghi nhận bệnh ngày càng tốt hơn cũng làm số ca được thống kê tăng lên.

Bộ Y tế hướng dẫn sàng lọc theo từng nhóm nguy cơ

Từ thực tế trên, các chuyên gia cho rằng việc sàng lọc có tổ chức là giải pháp then chốt để giảm tỷ lệ tử vong và nâng cao hiệu quả điều trị.

Theo TS.BS Trần Đặng Ngọc Linh, Bộ Y tế đã phân nhóm phụ nữ theo mức độ nguy cơ để xây dựng lộ trình sàng lọc phù hợp. Nhóm nguy cơ trung bình gồm phụ nữ từ 40-45 tuổi trở lên và không thuộc nhóm có yếu tố nguy cơ cao.

111-1786083944.jpg
Bộ Y tế đã tổ chức hội thảo triển khai công tác phòng, chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung khu vực phía Nam (Ảnh: VGP)

Nhóm nguy cơ cao bao gồm phụ nữ đã xác định hoặc có nguy cơ cao mang đột biến gen BRCA; người mắc các hội chứng di truyền như Cowden, Li-Fraumeni, Peutz-Jeghers, giãn mao mạch - thất điều; người từng xạ trị vùng ngực hoặc có nguy cơ mắc ung thư vú trên 20-25% theo các mô hình đánh giá chuyên môn. Phụ nữ có mô vú đặc trên phim chụp nhũ ảnh cũng được xếp vào nhóm cần theo dõi theo hướng dẫn dành cho đối tượng nguy cơ cao.

Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, phụ nữ có nguy cơ trung bình trong độ tuổi 25-39 cần tự khám vú hằng tháng và khám lâm sàng định kỳ từ 1 đến 3 năm một lần. Với nhóm từ 40-70 tuổi, việc sàng lọc nên thực hiện mỗi năm, bao gồm khám lâm sàng, chụp X-quang tuyến vú và kết hợp siêu âm đối với người có mô vú đặc. Đối với phụ nữ trên 70 tuổi, việc sàng lọc sẽ dừng khi tuổi thọ kỳ vọng dưới 10 năm hoặc không còn đủ điều kiện thực hiện các biện pháp điều trị nếu phát hiện bệnh.

Riêng nhóm nguy cơ cao được khuyến cáo bắt đầu khám sàng lọc từ 25 tuổi với tần suất một lần mỗi năm, thực hiện khám lâm sàng, chụp nhũ ảnh và có thể chỉ định chụp cộng hưởng từ tuyến vú.

Phát hiện muộn vẫn là rào cản lớn trong điều trị

Theo TS Nguyễn Hoàng Thùy Linh, Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế, tỷ lệ tử vong do ung thư tại Việt Nam vẫn ở mức cao bởi phần lớn người bệnh được phát hiện khi bệnh đã bước sang giai đoạn muộn.

Bà cho biết hơn 60% bệnh nhân ung thư vú hiện được chẩn đoán ở giai đoạn III hoặc IV. Điều này khiến hiệu quả điều trị giảm đáng kể, đồng thời làm tăng chi phí điều trị và nguy cơ tử vong. Hiện tỷ lệ sống thêm sau 5 năm của bệnh nhân ung thư vú tại Việt Nam chỉ đạt khoảng 74%, thấp hơn so với nhiều quốc gia phát triển.

Theo các chuyên gia, sàng lọc và phát hiện sớm là giải pháp có ý nghĩa quyết định để giảm gánh nặng bệnh tật. Việc ban hành và triển khai hướng dẫn quốc gia về sàng lọc, chẩn đoán sớm sẽ tạo nền tảng xây dựng chương trình tầm soát có tổ chức trên phạm vi toàn quốc, giúp phát hiện bệnh ngay từ giai đoạn đầu và nâng cao hiệu quả điều trị.

Hướng tới mở rộng sàng lọc và tăng tỷ lệ tiêm vaccine HPV

Theo Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung giai đoạn 2026-2035 do Bộ Y tế ban hành, ngành y tế đặt mục tiêu giảm trung bình 2,5% tỷ lệ tử vong do ung thư vú mỗi năm.

Đối với ung thư cổ tử cung, mục tiêu là giảm tỷ lệ mắc mới xuống dưới 4 trường hợp trên 100.000 phụ nữ và giảm tỷ lệ tử vong xuống dưới 1 trường hợp trên 100.000 phụ nữ, tiến tới loại trừ căn bệnh này trong những năm tới.

Kế hoạch cũng đặt ra các chỉ tiêu cụ thể từ năm 2026. Theo đó, 90% trẻ em gái từ 9-15 tuổi sẽ được tiêm đủ liều vaccine HPV theo lộ trình của Chương trình Tiêm chủng mở rộng; 70% phụ nữ từ 40-70 tuổi được khám sàng lọc ung thư vú định kỳ; 70% phụ nữ từ 30-49 tuổi được xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung bằng các phương pháp có hiệu năng cao.

Bộ Y tế cũng yêu cầu 100% tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch hành động riêng về phòng, chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung, đồng thời từng bước đưa dịch vụ sàng lọc hai loại ung thư này vào danh mục được bảo hiểm y tế chi trả. Theo các chuyên gia, nếu các mục tiêu trên được triển khai đồng bộ, tỷ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm sẽ được cải thiện, tạo cơ hội nâng cao hiệu quả điều trị và giảm gánh nặng bệnh tật đối với phụ nữ Việt Nam trong những năm tới.