Tỷ lệ mang thai, sinh con và phá thai đều giảm
Thông tin tại hội nghị triển khai Đề án chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục vị thành niên, thanh niên giai đoạn 2026-2030 do Bộ Y tế tổ chức ngày 26/8, ông Tống Trần Hà, Phó Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em, cho biết các chỉ số liên quan đến mang thai ở tuổi vị thành niên trong năm 2025 có xu hướng giảm.
Số trường hợp mang thai ở tuổi vị thành niên chiếm khoảng 2,5% tổng số phụ nữ mang thai. Tỷ suất sinh ở nhóm tuổi này trên tổng số phụ nữ sinh con cũng giảm.
Năm 2025, tỷ suất sinh ở tuổi vị thành niên là 32,27‰, thấp hơn mức 34,57‰ của năm 2024. Tỷ lệ phá thai ở tuổi vị thành niên trên tổng số ca phá thai cũng giảm từ 1,77% năm 2024 xuống còn 1,43% năm 2025.
Những số liệu trên cho thấy một số chỉ số về sức khỏe sinh sản ở nhóm vị thành niên đang chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Tuy nhiên, mức giảm hiện nay chưa đồng nghĩa các nguy cơ đã được loại bỏ, nhất là khi thanh thiếu niên vẫn còn những hạn chế trong tiếp cận dịch vụ và biện pháp tránh thai hiện đại.
Theo định hướng của Đề án giai đoạn 2026-2030, Việt Nam đặt mục tiêu đưa tỷ suất sinh đặc trưng ở nhóm 15-19 tuổi xuống dưới 18 trẻ đẻ sống trên 1.000 phụ nữ. Tỷ lệ phá thai ở vị thành niên trên tổng số ca phá thai cũng được kỳ vọng giảm xuống dưới 1%.

Tử vong mẹ giảm chậm, nhu cầu tránh thai chưa được đáp ứng còn cao
Tại hội nghị, ông Dương Văn Đạt, đại diện Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) tại Việt Nam, cho biết Việt Nam đã đạt nhiều kết quả trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản và sức khỏe cộng đồng.
Theo số liệu được ông Đạt chia sẻ, tỷ số tử vong mẹ tại Việt Nam đã giảm từ 165 trên 100.000 trẻ đẻ sống vào năm 2000 xuống còn 48 vào năm 2025. Việt Nam cũng là một trong 6 quốc gia trên thế giới hoàn thành Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ về giảm tử vong mẹ vào năm 2015.
Dù vậy, tốc độ giảm tử vong mẹ tại Việt Nam những năm gần đây đang có dấu hiệu chậm lại, dao động quanh mức 46 trên 100.000 trẻ đẻ sống.
Theo ông Đạt, trên thế giới, việc tiếp cận các biện pháp kế hoạch hóa gia đình tự nguyện giúp phòng ngừa trực tiếp tình trạng mang thai ngoài ý muốn và phá thai không an toàn, có thể làm giảm gần 30% số ca tử vong mẹ.
Trong khi đó, khoảng trống về tiếp cận các biện pháp tránh thai hiện đại tại Việt Nam vẫn còn lớn, nhất là đối với những nhóm dễ bị tổn thương và người chưa kết hôn.
Hơn 40% người chưa kết hôn có nhu cầu kế hoạch hóa gia đình chưa được đáp ứng
Số liệu được công bố tại hội nghị cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa các nhóm dân cư trong khả năng tiếp cận dịch vụ kế hoạch hóa gia đình.
Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai ở các cặp vợ chồng đã kết hôn hiện đạt 72%. Trong khi đó, tỷ lệ này ở nhóm chưa kết hôn chỉ đạt 49%.
Khoảng cách càng thể hiện rõ qua chỉ số nhu cầu kế hoạch hóa gia đình chưa được đáp ứng. Dữ liệu năm 2023 cho thấy, trong vòng một thập kỷ, tỷ lệ nhu cầu chưa được đáp ứng ở các cặp vợ chồng tăng từ 7% lên 10%.

Ở nhóm chưa kết hôn, con số này lên tới trên 40%, cao gấp khoảng 4 lần so với nhóm đã kết hôn.
Thực trạng này cho thấy việc tiếp cận thông tin, dịch vụ và các biện pháp tránh thai của nhóm chưa kết hôn vẫn là một khoảng trống lớn. Đây cũng là nhóm cần được chú trọng khi triển khai các chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục trong giai đoạn tới.
Xây dựng dịch vụ thân thiện với vị thành niên, thanh niên
Theo lãnh đạo Cục Bà mẹ và Trẻ em, thời gian tới, ngành Y tế sẽ tiếp tục hoàn thiện và tổ chức thực hiện đồng bộ các chính sách, pháp luật liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho vị thành niên và thanh niên.
Quan điểm được đặt ra là lấy vị thành niên, thanh niên làm trung tâm trong các hoạt động can thiệp. Chính sách, chương trình và dịch vụ cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của nhóm đối tượng này.

Bộ Y tế cũng định hướng xây dựng hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục thân thiện hơn với vị thành niên, thanh niên. Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản toàn diện cần được triển khai phù hợp với từng lứa tuổi.
Một nội dung khác được đặt ra là tăng cường phối hợp giữa ngành Y tế và ngành Giáo dục trong việc cung cấp kiến thức khoa học về cơ thể, tuổi dậy thì, giới và bình đẳng giới, tình bạn, tình yêu, kỹ năng tự bảo vệ, phòng tránh thai, tình dục an toàn, HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Việc triển khai các giải pháp trong giai đoạn 2026-2030 cũng sẽ tăng cường giám sát, đánh giá theo các kết quả cụ thể. Trong đó, việc theo dõi những chỉ số như mang thai, sinh con, phá thai và khả năng tiếp cận dịch vụ sẽ là cơ sở để đánh giá hiệu quả của chính sách.
Xu hướng giảm số ca mang thai ở tuổi vị thành niên là tín hiệu tích cực, nhưng những khoảng trống trong tiếp cận dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cho thấy công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản vẫn cần đi sâu hơn vào các nhóm có nguy cơ. Khi người trẻ có đủ kiến thức và khả năng tiếp cận dịch vụ phù hợp, mục tiêu giảm mang thai ngoài ý muốn và bảo vệ sức khỏe sinh sản mới có thể được duy trì bền vững.