Giá dịch vụ không chỉ nằm ở máy móc, cơ sở vật chất
Một nữ đại biểu đến từ Hội Luật gia TP. Hồ Chí Minh bày tỏ băn khoăn trước quy định cho phép các cơ sở y tế tự xây dựng và quyết định mức giá dịch vụ theo yêu cầu trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh.
Theo đại biểu, khi tính giá một dịch vụ y tế, máy móc, trang thiết bị và cơ sở vật chất có thể quy đổi thành chi phí tương đối cụ thể. Nhưng chất lượng khám, điều trị lại phụ thuộc rất lớn vào năng lực của đội ngũ y bác sĩ.

Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm của người trực tiếp khám và điều trị là những yếu tố không dễ quy đổi thành một con số đơn thuần. Một cơ sở có thể đầu tư lớn về máy móc, phòng bệnh nhưng điều đó chưa đủ để phản ánh toàn bộ chất lượng dịch vụ mà người bệnh nhận được.
Vấn đề này càng rõ khi nhu cầu khám chữa bệnh theo yêu cầu tăng lên trong khi một số cơ sở vẫn chịu áp lực quá tải. Sau giai đoạn sắp xếp, sáp nhập, Đảng và Nhà nước tiếp tục quan tâm đến chương trình khám bệnh toàn dân, nhưng điều trị chuyên sâu và chăm sóc theo yêu cầu vẫn còn những hạn chế.
Nữ đại biểu dẫn thực tế có những người chấp nhận trả đầy đủ chi phí dịch vụ nhưng khi vào viện vẫn phải nằm trong phòng chật chội, điều kiện chăm sóc chưa tương xứng với số tiền bỏ ra.
Từ thực tế đó, đại biểu đề nghị phải có lộ trình tính toán để giá dịch vụ đi cùng chất lượng dịch vụ. Người bệnh trả thêm tiền cho dịch vụ theo yêu cầu cần nhìn thấy rõ những giá trị mà họ được hưởng, thay vì chỉ nhận một mức giá được xác lập từ phía cơ sở y tế.
Câu chuyện giá vì thế không dừng ở quyền tự chủ của bệnh viện. Nó liên quan trực tiếp đến quyền lựa chọn của người bệnh và cách ngành y tế bảo đảm sự minh bạch trong cung cấp dịch vụ.
Bỏ giới hạn giá có thể tạo mặt bằng khác nhau
Một nội dung khác được các đại biểu quan tâm là đề xuất phân cấp cho UBND tỉnh, thành phố quy định giá dịch vụ khám chữa bệnh tại các cơ sở thuộc địa bàn quản lý.
TS.BS Phạm Quốc Dũng, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, phân tích về thẩm quyền xây dựng chi phí dịch vụ kỹ thuật khám chữa bệnh trong dự thảo.
Theo nội dung được đưa ra tại hội nghị, UBND cấp tỉnh, thành phố có thể quy định giá cụ thể cho cơ sở khám chữa bệnh thuộc địa bàn quản lý theo 3 cấp chuyên môn kỹ thuật.

Tờ trình số 586/TTr-CP đề xuất bãi bỏ điều kiện “không được vượt quá giá do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định”. Lý do được nêu là giới hạn này làm giảm tính chủ động của địa phương và tạo ra sự phụ thuộc không cần thiết.
Tuy nhiên, TS.BS Phạm Quốc Dũng cho rằng cần tính đến hệ quả khi mỗi địa phương xây dựng một mức giá riêng. Nếu không có khung kiểm soát phù hợp, cùng một dịch vụ kỹ thuật ở cùng cấp chuyên môn có thể được tính với những mức giá rất khác nhau.
Ông gọi đây là nguy cơ “loạn giá”, có thể tác động trực tiếp đến quyền lợi người bệnh. Nhóm dễ chịu ảnh hưởng là những bệnh nhân sử dụng bảo hiểm y tế nhưng phải di chuyển liên tỉnh để khám, điều trị hoặc thực hiện kỹ thuật chuyên sâu.
Một bệnh nhân không phải lúc nào cũng khám và điều trị trong phạm vi một tỉnh. Các bệnh viện tuyến trên, nhất là những cơ sở có năng lực chuyên môn cao, tiếp nhận người bệnh từ nhiều địa phương. Khi giá dịch vụ giữa các tỉnh có khoảng cách lớn, việc tổ chức khám chữa bệnh và thanh toán chi phí cũng có thể phát sinh thêm vấn đề.
Các bệnh viện thực hành thuộc trường đại học y cũng có đặc thù tương tự. Đây vừa là nơi đào tạo, vừa tiếp nhận người bệnh đến từ nhiều tỉnh, thành phố. Sự khác biệt quá lớn về giá giữa các địa phương có thể ảnh hưởng tới hoạt động của những cơ sở này.
Phân cấp giá phải có cơ chế kiểm soát
TS.BS Phạm Quốc Dũng không phản đối việc tăng tính chủ động cho địa phương. Điều ông lưu ý là khi bỏ một giới hạn, cần xác lập một cơ chế kiểm soát khác đủ rõ để bảo đảm sự thống nhất cần thiết trong toàn hệ thống.
Theo ông, nếu Quốc hội thống nhất bỏ giới hạn “trần giá”, dự thảo cần bổ sung cơ chế kiểm soát thay thế. Mục tiêu là tránh để mức giá của cùng một dịch vụ kỹ thuật, cùng cấp chuyên môn chênh lệch quá lớn giữa các tỉnh.

Đây cũng là vấn đề được Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục xem xét. Theo Sở Y tế, tờ trình đề xuất bỏ giới hạn giá địa phương không được vượt mức do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định, trong khi dự thảo hiện vẫn giữ quy định này.
Từ thực tế quản lý, Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh đề nghị cần thống nhất phương án theo hướng tăng tính chủ động cho địa phương nhưng đi kèm phương pháp định giá thống nhất.
Việc công khai chi phí cũng được đặt ra như một yêu cầu trong quá trình xác lập giá. Cùng với đó là đánh giá tác động của giá dịch vụ đối với người bệnh và quỹ bảo hiểm y tế trước khi áp dụng.
Nếu quyền quyết định giá được phân cấp nhưng phương pháp tính giá không thống nhất, người bệnh có thể đứng trước một hệ thống giá thiếu đồng đều. Ngược lại, nếu giữ nguyên mọi quyết định ở cấp Trung ương, địa phương lại khó chủ động điều chỉnh theo điều kiện thực tế.
Bài toán được đặt ra tại hội nghị vì vậy là tìm điểm cân bằng giữa quyền tự chủ của địa phương và yêu cầu quản lý thống nhất đối với dịch vụ khám chữa bệnh.
Quản lý giấy phép hành nghề cũng cần liên thông
Không chỉ giá dịch vụ, thẩm quyền cấp và đình chỉ giấy phép hành nghề khám chữa bệnh trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh cũng được TS.BS Phạm Quốc Dũng đề cập.
Theo nội dung đang được điều chỉnh, thẩm quyền thu hồi giấy phép hành nghề được giao toàn bộ cho UBND cấp tỉnh, thành phố.
Khi thẩm quyền quản lý được phân cấp, vấn đề đặt ra là làm thế nào để các địa phương nắm được đầy đủ thông tin về người hành nghề. Một bác sĩ có thể làm việc, hành nghề hoặc có liên quan đến cơ sở y tế ở nhiều địa phương, vì vậy dữ liệu quản lý không thể chỉ dừng trong phạm vi một tỉnh.
TS.BS Phạm Quốc Dũng đề xuất bổ sung cơ chế phối hợp trong thẩm định hồ sơ trước khi thu hồi giấy phép. Theo ông, cần tránh để việc chuyển thẩm quyền tạo ra khoảng trống trong quản lý hoạt động hành nghề khám chữa bệnh.
Ông cũng đề nghị kết nối hệ thống dữ liệu quản lý giấy phép hành nghề giữa các địa phương. Khi một giấy phép bị thu hồi ở tỉnh này, thông tin cần được cập nhật để địa phương khác có thể biết và quản lý.
Đây là một trong những yêu cầu đi cùng quá trình phân cấp. Địa phương được giao thêm quyền phải có công cụ, dữ liệu và cơ chế phối hợp đủ để thực hiện trách nhiệm của mình.
Nếu thông tin không được chia sẻ thống nhất, việc cấp, đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép có thể bị chia cắt theo địa giới hành chính, trong khi hoạt động khám chữa bệnh của người hành nghề lại không chỉ diễn ra tại một địa phương.
TP. Hồ Chí Minh kiến nghị giữ hàng rào an toàn
Từ góc độ cơ quan trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách y tế, Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh thống nhất sự cần thiết sửa đổi, bổ sung 5 luật liên quan lĩnh vực y tế. Tuy nhiên, cơ quan này lưu ý việc giảm thủ tục hành chính phải đi cùng yêu cầu bảo đảm chất lượng dịch vụ, an toàn người bệnh và bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương.
Với Luật Trẻ em, Sở Y tế đề nghị khi chuyển trách nhiệm của Bộ Y tế từ Điều 84 sang Điều 82 phải kế thừa đầy đủ các nhiệm vụ liên quan khám sức khỏe định kỳ, dinh dưỡng, sàng lọc trước sinh và sơ sinh, sức khỏe tâm thần, y tế trường học và chăm sóc trẻ có hoàn cảnh đặc biệt.
Sở cũng đề nghị làm rõ trách nhiệm phối hợp giữa ngành y tế, công an và UBND cấp xã. Với trẻ bị xâm hại, yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm các em được cấp cứu, điều trị và bảo vệ kịp thời.
Đối với đề xuất bỏ thủ tục cấp phép dịch vụ bảo vệ trẻ em, Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng cần có cơ chế giám sát chất lượng thay thế. Cắt giảm một thủ tục hành chính không đồng nghĩa với việc bỏ công cụ kiểm soát chất lượng dịch vụ.
Ở Luật Người khuyết tật, Sở đề nghị bảo đảm năng lực chuyên môn của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã. Những trường hợp phức tạp cần có cơ chế hỗ trợ chuyên gia để việc đánh giá được thực hiện phù hợp.
Riêng Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh đề xuất tăng thẩm quyền cho địa phương nhưng phải quy định rõ đầu mối cấp phép, quản lý hành nghề và chia sẻ dữ liệu trên phạm vi toàn quốc.
Những kiến nghị này cùng hướng đến một vấn đề: phân cấp không thể tách rời trách nhiệm kiểm soát. Khi một đầu mối được trao thêm quyền quyết định, hệ thống cũng phải xác định rõ ai chịu trách nhiệm, sử dụng dữ liệu nào và chịu sự giám sát ra sao.
Sửa luật nhưng không hạ chuẩn an toàn y tế
Ngoài Luật Khám bệnh, chữa bệnh, các nội dung liên quan Luật Dược và Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia cũng được Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh đưa ra tại hội nghị.
Về Luật Dược, Sở đề nghị thống nhất việc đơn giản hóa hồ sơ, tạo điều kiện để người dân tiếp cận thuốc và vắc xin. Tuy nhiên, với phương án miễn thử lâm sàng bổ sung tại Việt Nam, Sở cho rằng cần dựa trên dữ liệu đã được thẩm định, có căn cứ khoa học và cơ chế giám sát sau lưu hành.

Yêu cầu này đặt ra sự cân bằng giữa mục tiêu rút ngắn thủ tục và yêu cầu kiểm soát an toàn thuốc. Với những sản phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe, việc giảm thủ tục phải có căn cứ và công cụ hậu kiểm tương ứng.
Trong lĩnh vực phòng, chống tác hại của rượu, bia, Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh đề nghị tách việc cắt giảm điều kiện kinh doanh khỏi các biện pháp bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Sở đề nghị giữ quy định cấm bán rượu, bia bằng máy bán hàng tự động.
Đối với thương mại điện tử, cơ quan này đề nghị quy định rõ trách nhiệm kiểm soát tuổi của người mua và người nhận hàng, bảo vệ người dưới 18 tuổi.
Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh cũng đề nghị bổ sung quy định chuyển tiếp đối với giấy phép, hồ sơ đang giải quyết, giá dịch vụ và dữ liệu quản lý. Các điều kiện về nhân lực, kinh phí, hạ tầng số và năng lực hậu kiểm của địa phương cần được đánh giá đầy đủ.
Những vấn đề được đưa ra tại hội nghị cho thấy sửa luật trong lĩnh vực y tế không chỉ là điều chỉnh câu chữ hay phân chia lại thẩm quyền. Mỗi thay đổi về giá, giấy phép hành nghề, thuốc, dịch vụ hay trách nhiệm quản lý đều tác động trực tiếp đến người bệnh.
Với phương án tăng quyền chủ động cho địa phương, yêu cầu đặt ra là phải giữ được mặt bằng quản lý cần thiết trên toàn quốc. Giá dịch vụ có thể được tính sát hơn với điều kiện từng nơi, nhưng người bệnh vẫn cần được bảo vệ bằng những nguyên tắc chung về minh bạch, chất lượng và an toàn.
Khi các dự luật tiếp tục được hoàn thiện, cơ chế kiểm soát sau phân cấp sẽ là một trong những điểm cần được làm rõ. Đó cũng là cơ sở để quyền tự chủ của cơ sở y tế và địa phương không trở thành khoảng trống quản lý, còn người bệnh không phải tự gánh hệ quả từ những khác biệt của hệ thống.