Thị trường đã hình thành, nhưng còn phân tán
Theo dự thảo Đề án, hoạt động chăm sóc sức khỏe kết hợp du lịch tại Việt Nam đã xuất hiện từ nhiều năm trước. Tuy nhiên, mô hình du lịch y tế theo cách tiếp cận hiện đại mới phát triển rõ nét trong khoảng một thập kỷ gần đây.
Nền tảng cho thị trường này là năng lực khám chữa bệnh ngày càng được mở rộng. Đến năm 2025, Việt Nam có 2.107 bệnh viện, hơn 339.000 giường bệnh và trên 105.000 bác sĩ. Hệ thống chuyên sâu gồm 103 bệnh viện, trong đó 13 cơ sở ở cấp chuyên sâu kỹ thuật cao, tập trung tại Hà Nội, Huế và TP. Hồ Chí Minh.

Một số bệnh viện đã làm chủ nhiều kỹ thuật phức tạp như phẫu thuật robot, ghép tạng, can thiệp tim mạch, điều trị ung thư, hỗ trợ sinh sản cùng các kỹ thuật chuyên sâu về mắt, tai mũi họng và răng hàm mặt. Đây được xem là cơ sở để Việt Nam mở rộng các dịch vụ y tế hướng tới khách quốc tế.
Hiện mỗi năm có khoảng 300.000 lượt khách quốc tế sử dụng dịch vụ y tế tại Việt Nam. Tổng mức chi tiêu của nhóm khách này ước khoảng 1-2 tỷ USD, bao gồm cả chi phí khám chữa bệnh và các khoản phát sinh từ lưu trú, đi lại, ăn uống. Phần chi riêng cho dịch vụ y tế hiện chưa được bóc tách.

Hoạt động tập trung chủ yếu tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. TP. Hồ Chí Minh chiếm khoảng 40% lượng khách quốc tế, trong khi Đà Nẵng, Huế, Khánh Hòa đang phát triển các sản phẩm kết hợp khám chữa bệnh với nghỉ dưỡng và chăm sóc sức khỏe.
Nha khoa, thẩm mỹ, hỗ trợ sinh sản, khám sức khỏe tổng quát và một số chuyên khoa kỹ thuật cao là những nhóm dịch vụ được khách quốc tế sử dụng nhiều. Nguồn khách chủ yếu gồm Việt kiều và người đến từ Campuchia, Lào, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia cùng một số nước châu Âu.
Thiếu khung pháp lý riêng, nhân lực còn hạn chế
Dù được đánh giá có nhiều tiềm năng, du lịch y tế Việt Nam vẫn đứng trước không ít rào cản. Điểm nghẽn lớn là chưa có khung pháp lý riêng, đồng bộ cho toàn bộ chuỗi dịch vụ.
Các quy định hiện nằm rải rác trong nhiều lĩnh vực như khám chữa bệnh, du lịch, giá dịch vụ, xuất nhập cảnh, bảo hiểm và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Việt Nam cũng chưa có bộ tiêu chí thống nhất để công nhận một cơ sở đủ điều kiện cung ứng dịch vụ du lịch y tế.
Những vấn đề liên quan đến giải quyết tranh chấp y khoa có yếu tố nước ngoài và bảo vệ, trao đổi dữ liệu y tế xuyên biên giới cũng chưa được hoàn thiện. Đây là những khoảng trống cần được xử lý nếu Việt Nam muốn xây dựng một thị trường có khả năng cạnh tranh trong khu vực.

Áp lực cạnh tranh không nhỏ khi Thái Lan, Singapore, Malaysia, Hàn Quốc và Nhật Bản đã phát triển mạnh du lịch y tế. Về số lượng cơ sở đạt các chứng nhận chất lượng quốc tế, Việt Nam cũng đang ở phía sau. Hiện cả nước có 13 bệnh viện đạt chứng nhận JCI và 3 bệnh viện đạt chứng nhận ACHS International.
Trong khi đó, hệ thống dịch vụ trọn gói từ y tế, lưu trú đến du lịch, nghỉ dưỡng vẫn chưa phát triển đồng đều. Một bộ phận nhân viên y tế, điều dưỡng và nhân sự hỗ trợ còn hạn chế về ngoại ngữ chuyên ngành, giao tiếp liên văn hóa và kỹ năng phục vụ khách quốc tế.
Các vị trí đặc thù như điều phối viên du lịch y tế, phiên dịch y tế, điều phối bảo hiểm quốc tế hay tư vấn khách hàng quốc tế cũng chưa có hệ thống đào tạo và nguồn nhân lực chuyên biệt.
Cơ chế thanh toán bảo hiểm quốc tế là một vấn đề khác. Việc thanh toán trực tiếp giữa cơ sở y tế Việt Nam và doanh nghiệp bảo hiểm quốc tế mới được triển khai tại một số bệnh viện tư nhân, chưa thực hiện tại bệnh viện công. Điều này hạn chế khả năng tiếp cận nhóm khách sử dụng bảo hiểm y tế quốc tế.
Không chỉ hút khách, còn giữ người bệnh trong nước
Dự thảo Đề án đặt mục tiêu phát triển du lịch y tế không chỉ để thu hút người nước ngoài mà còn hạn chế dòng người Việt ra nước ngoài điều trị.
Theo số liệu được nêu trong dự thảo, người Việt Nam hiện chi khoảng 2-3 tỷ USD mỗi năm cho khám chữa bệnh ở nước ngoài. Mức chi này cao hơn tổng chi tiêu ước tính của khách du lịch y tế quốc tế tại Việt Nam.
Khoảng cách này cho thấy dư địa của thị trường trong nước còn rất lớn. Nếu các dịch vụ có chất lượng được chuẩn hóa, người bệnh có thêm lựa chọn trong nước thay vì phải tìm đến các cơ sở y tế ở nước ngoài.

Đề án vì thế hướng tới xây dựng Việt Nam trở thành một trong những điểm đến du lịch y tế có sức cạnh tranh tại Đông Nam Á, từng bước tiệm cận nhóm dẫn đầu châu Á. Chuỗi dịch vụ được định hướng không chỉ gồm y học hiện đại mà mở rộng sang y dược cổ truyền, phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe toàn diện và chăm sóc người cao tuổi.
Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có ít nhất 20 bệnh viện đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế như JCI, ACHS hoặc tương đương, trong đó tối thiểu 5 bệnh viện công lập. Cùng thời điểm, ít nhất 30 gói sản phẩm du lịch y tế được chuẩn hóa, bao phủ các khâu trước, trong và sau khi khách sử dụng dịch vụ.
Các sản phẩm dự kiến tập trung vào khám tầm soát, nha khoa, y học cổ truyền và một số dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu. Mức độ hài lòng của khách du lịch y tế quốc tế và người bệnh tại các cơ sở thuộc mạng lưới du lịch y tế được đặt mục tiêu đạt tối thiểu 90%.
Hướng tới hệ sinh thái du lịch y tế đồng bộ
Một trong những mục tiêu được đặt ra là đến năm 2028 vận hành Cổng thông tin du lịch y tế quốc gia đa ngôn ngữ và Cơ sở dữ liệu du lịch y tế quốc gia. Bộ nhận diện thương hiệu quốc gia “Du lịch y tế Việt Nam” cũng sẽ được xây dựng và triển khai thống nhất.
Để tạo hành lang cho thị trường, dự thảo đề án tập trung hoàn thiện sáu nhóm cơ chế: tiếp cận dịch vụ và thủ tục hành chính; tài chính và giá dịch vụ; quản lý chất lượng; hợp tác, đầu tư; quản trị dữ liệu; bảo vệ quyền lợi và giải quyết tranh chấp.
Trong đó, cơ chế thị thực, nhập cảnh và lưu trú phù hợp với người bệnh và người đi cùng sẽ được nghiên cứu. Cơ chế giá tại các cơ sở y tế công lập cũng được đặt ra cùng việc thúc đẩy thanh toán trực tiếp với bảo hiểm quốc tế.

Bộ Y tế dự kiến xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá, công nhận cơ sở cung ứng dịch vụ du lịch y tế; khuyến khích hợp tác công tư và đầu tư vào lĩnh vực này. Các sản phẩm bảo hiểm phù hợp với khách du lịch y tế cũng được tính đến.
Một nội dung khác là xây dựng hệ thống bảo đảm chia sẻ dữ liệu y tế xuyên biên giới theo quy định pháp luật và cơ chế xử lý tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Đây là những vấn đề có ý nghĩa trực tiếp với quyền lợi của người bệnh khi sử dụng dịch vụ tại Việt Nam.
Về thị trường, Việt Nam sẽ tập trung vào những chuyên khoa có lợi thế cạnh tranh, kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền, phục hồi chức năng và hệ thống nghỉ dưỡng tại các địa phương.
Mục tiêu đến năm 2030 là đón khoảng 750.000 lượt khách du lịch y tế, tạo doanh thu trực tiếp từ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe khoảng 1 tỷ USD. Tổng chi tiêu của khách và người đi cùng dự kiến đạt khoảng 2,5 tỷ USD.

Những con số này đặt ra yêu cầu không chỉ mở rộng quy mô mà còn phải nâng chất lượng dịch vụ, chuẩn hóa quy trình và xây dựng niềm tin với người bệnh. Năm 2025, các chuyên gia từng ước tính thị trường du lịch y tế Việt Nam có thể đạt doanh thu 4 tỷ USD vào năm 2033 nếu được đầu tư bài bản.
Từ một thị trường còn phân tán, Việt Nam đang đứng trước cơ hội xây dựng một hệ sinh thái du lịch y tế có quy chuẩn, kết nối bệnh viện, doanh nghiệp du lịch, bảo hiểm và các dịch vụ hỗ trợ. Khi các rào cản về pháp lý, chất lượng, nhân lực và dữ liệu được tháo gỡ, mục tiêu thu hút khách quốc tế sẽ đi cùng một mục tiêu khác: nâng sức cạnh tranh của y tế trong nước và giữ lại nguồn lực đang chảy ra nước ngoài.